Một Số Dạng Trang Phục Thời Lê

Giao Lĩnh Thường – tức bộ y phục gồm chiếc áo 6 thân có cổ giao nhau (giao lĩnh) đi cùng với chiếc váy quây (thường) – là phục trang phổ biến nhất trong dân gian thời Lê, có thể thấy qua tranh vẽ lẫn điêu khắc.

Giao lĩnh có dạng vạt ngắn và vạt dài.

Giao lĩnh vạt ngắn dài không quá thân trên, thường dùng cho phụ nữ. Ở Trung Quốc, chiếc áo vạt ngắn này được gọi là nhu (襦), khi đi chung với váy sẽ được gọi là nhu quần (襦裙) – tức áo ngắn và váy. Những từ như thường (裳) và quần (裙) xưa đều được dùng để chỉ hạ y không đáy; tại Việt Nam từ thời Nguyễn trở đi, từ “quần” mới được chuyển sang dùng chủ yếu cho hạ y hai ổng.

Tại Triều Tiền và Trung Quốc thời Minh, giao lĩnh vạt ngắn là lớp y phục ngoài cùng, như thấy trong hai ảnh sau.

 

Tại Việt Nam thời Lê, giao lĩnh vạt ngắn có thường quây bên ngoài, tương tự các thời kỳ trước của Trung Quốc, có nét tương đồng với giao lĩnh quây hakama của Nhật.

541557_825796164152119_1293335357923577702_n1

Giao lĩnh vạt ngắn quây thường triều Lê

 

Tuy nhiên giao lĩnh vạt ngắn quây thường triều Lê có thể phân biệt với giao lĩnh vạt ngắn quây thường của các triều đại ở Trung Quốc ở chỗ chiếc thường bên ngoài ngắn hơn chiếc thường (hoặc váy) bên trong, để lộ hai lớp váy. Trong khi đó, ở Trung Quốc (cũng như Nhật Bản và Triều Tiên), chiếc thường bên ngoài dài đến sát đất, che kín chiếc thường (hoặc váy) bên trong.

Thật ra kiểu y phục có thường ngoài ngắn hơn thường trong cũng có tại Trung Quốc ở một số thời kỳ (như thấy ở ảnh thứ 2 trên), song không phổ biến bằng tại Việt Nam triều Lê.

Cuối thời Lê, ta cũng thấy xuất hiện kiểu giao lĩnh vạt ngắn mặc phủ ngoài thường, mặc thành nhiều lớp, tạo ra một phong cách khá mới lạ, như minh hoạ ở tranh sau.

10661758_825800080818394_1081054808295265187_o

Giao lĩnh vạt dài dài quá đầu gối, cả nam lẫn nữ đều mặc; khi mặc thì áo phủ bên ngoài thường. Dạng phục trang này phổ biến tại cả 4 nước Việt, Trung, Hàn, Nhật, song thay đổi qua các thời kỳ và nhiều khác biệt về tiểu tiết có thể dùng để nhận dạng.

1966289_825798777485191_6333011336429683449_o

Giao lĩnh vạt dài triều Lê

Giao lĩnh vạt dài (cũng như vạt ngắn) triều Lê có cổ cong võng, có thể thấy ở hình minh hoạ trên.

Kiểu cổ giao lĩnh cong võng này được thấy khá phổ biến từ đời Tống về trước, song đến triều Minh, cổ giao lĩnh thẳng hơn và kéo kín hơn, làm nên sự khác biệt giữa giao lĩnh triều Lê và Minh cũng như Triều Tiên (vốn chịu ảnh hưởng bởi phục sức Minh). Một điểm nữa có thể dùng để nhận biết là váy của Minh và Triều Tiên thường có nếp gấp còn váy thời Lê thì không. Ống tay áo triều Lê là dạng trực cư (ống tay thẳng) trong khi đó ống tay áo triều Minh là khúc cư (ống tay cong).

Viên Lĩnh Thường – tương tự như giao lĩnh thường, nhưng áo là dạng cổ tròn thay vì cổ giao nhau, cũng có dạng vạt ngắn và vạt dài.

Viên lĩnh vạt ngắn – tương tự như giao lĩnh, viên lĩnh vạt ngắn thường có thường quây bên ngoài, và thường dùng cho phụ nữ.

1384220_825800457485023_3577263164032307910_n

Viên lĩnh vạt ngắn quây thường

Ngoài kiểu viên lĩnh tay dài thông thường còn có cả kiểu viên lĩnh không tay, khi mặc vào sẽ lộ lớp tay áo bên trong.

10848933_862398093825259_1087461348197376531_o

Viên lĩnh vạt ngắn không tay quây thường

Viên lĩnh vạt dài – tương tự như giao lĩnh, viên lĩnh vạt dài thường được mặc phủ bên ngoài thường.

10625105_825851910813211_2024177047085041033_n

Vào thời Lý, áo viên lĩnh thường có bốn vạt ở trước như trong lời tả của Chu Khứ Phi thời Tống,”Những người còn lại, ngày thường trên thì vận áo Sam đen cổ tròn bó sát, bốn vạt như áo Bối Tử, gọi là áo Tứ Điên; dưới thì vận thường đen.” (trích Ngàn Năm Áo Mũ). Loại viên lĩnh bốn vạt này có thể còn tồn tại đến thời Lê.

12348252_989891177735152_1878431033_n

Ảnh minh hoạ một dạng viên lĩnh có bốn vạt.

 

Nội Y – Đối Khâm: Đôi khi phụ nữ không khoác giao lĩnh hay viên lĩnh ở ngoài, chỉ mặc một chiếc nội y, choàng thêm chiếc áo đối khâm. Đây là kiểu tiện phục quen thuộc của các hậu phi.

10700171_825796374152098_2523579459084527221_o

Nội y quây thường khoác đối khâm

Lối ăn vận này đôi khi cũng được thấy trong dân gian, đặc biệt vào những khi trời nóng bức. Đôi khi, nội y còn được thả ra bên ngoài thường.

10625046_825796784152057_8968896957300221356_n

 

Đôi khi chiếc thường được kéo lên cao (như phụ nữ thời Đường từng hay làm và sau này được ưa chuộng tại Triều Tiên), làm thành kiểu “cao thúc”.

10257639_825796074152128_585501650200916266_o

Cao Thúc – thường (váy) được kéo lên cao

Khi nội y phụ nữ chỉ là dạng quấn quanh ngực, kết hợp với thường kéo cao và đối khâm, sẽ tạo nên một kiểu trang phục khá giống tiện phục của các nữ hậu phi thời Đường.

10420787_825796567485412_7965649930123684734_n

Advertisements

Sự khác biệt về cách may giữa Áo Cổ Đứng Xưa và Áo Dài Tân Thời

Qua vài nghìn năm tiến hoá, y phục phổ biến ở Đông Á đã biến đổi khá nhiều, từ chiếc áo giao lĩnh 6 thân thời Hán đến chiếc áo cổ đứng 5 thân thời Nguyễn. Song công thức may không thay đổi nhiều, dẫn đến 1 sự nhất quán dễ nhận biết về phong thái và kiểu cách.

Những ảnh hưởng từ phương Tây ở giữa thế kỷ 20 đã mang lại 1 sự bức phá lớn cho chiếc áo truyền thống của Việt Nam. Lần này, không chỉ kiểu dáng chiếc áo biến đổi, mà cả công thức may cũng thay đổi. Sự thay đổi về kết cấu căn bản đã mang lại 1 phong thái hoàn toàn khác cho y phục truyền thống Việt Nam. Hãy điểm qua 1 số điểm khác biệt dễ nhận thấy khi so sánh chiếc áo giao lĩnh / viên lĩnh / lập lĩnh truyền thống với áo dài tân thời.

 

Những ảnh trên cho thấy công thức may những chiếc áo giao lĩnh / viên lĩnh / lập lĩnh (6 thân hoặc 5 thân) thời xưa. Kể cả áo đối khâm 4 thân cũng áp dụng công thức tương tự: Hai mảnh vải khâu lại làm nên thân áo, độ rộng kéo dài đến nửa cánh tay, hai mảnh vải nữa chắp vào làm nên hai nửa ống tay áo.

Vì công thức may này mà y phục phương Đông xưa có kiểu dáng khá giống nhau: 1) Khi trải ra, ống tay áo và vai tạo thành 1 đường thẳng; 2) Phần nách áo khá rộng dù ống tay áo có rộng hay hẹp; 3) Thân áo khá rộng, càng xuống dưới thì càng rộng (do được ghép từ hai mảnh vải).

 

Ngược lại vì sự bức phá trong công thức may mà áo dài tân thời có những điểm khác biệt dễ nhận thấy như sau: 1) Khi trải ra, ống tay áo và thân áo tạo thành 1 đường gấp khúc chứ không thẳng như áo dài truyền thống; 2) Nách áo hẹp, dẫn đến thân áo ôm sát người; 3) Thân áo hẹp do chỉ được may từ 1 mảnh vải; 4) Ống tay áo được nối vào thân áo theo kiểu Raglan như áo thể thao của phương Tây chứ không như cách thức truyền thống.

 

Áo Dài

Từ “áo dài” ngày nay được dùng để chỉ một loại áo cách điệu từ áo thụ lĩnh thông dụng của triều Nguyễn.

Tuy nhiên, trong quá khứ, khái niệm “áo dài” (trường áo, trường y, trường bào, trường sam) không nhất thiết chỉ riêng thụ lĩnh mà còn có thể dùng để chỉ các loại giao lĩnh, viên lĩnh có vạt dài.

Thời Minh, từ “trường áo” (長襖) được dùng để chỉ loại áo vạt dài dành cho phụ nữ, được mặc bên ngoài thường. Trường áo thời Minh có thể là dạng giao lĩnh, viên lĩnh, hoặc thụ lĩnh.

 

Những dạng áo vạt dài phủ ngoài thường cũng phổ biến tại Việt Nam trong quá khứ và cũng tồn tại ở cả dạng giao lĩnh, viên lĩnh, và thụ lĩnh.

Những chiếc áo vạt dài này phân biệt với nhu (襦), là những chiếc áo vạt ngắn, thường được quấn thường bên ngoài.

ruqun

Nhu quần (襦裙) – áo vạt ngắn quây thường. Nhu (襦) có nghĩa là chiếc áo ngắn. Quần (裙) là chiếc váy, chiếc thường.

Những Dạng Cổ Áo Phổ Biến Ở Phương Đông Xưa

Bài này xin được nói qua về một số dạng cổ áo thường xuất hiện trong y phục Việt Nam và các nước phương Đông xưa.

Trực lĩnh (直領)

Từ “trực lĩnh” có nghĩa là cổ thẳng. Khái niệm trực lĩnh chưa được thống nhất. Trần Quang Đức trong quyển Ngàn Năm Áo Mũ trích lời của Thích Danh trong Thích Y Phục rằng, “Trực lĩnh, cổ áo chếch thẳng xuống, giao nhau ở dưới.” (Nguyên văn: 直領,領邪直而交下)

Theo lời giải thích trên thì trực lĩnh là giao lĩnh (loại áo có cổ giao nhau). Tuy nhiên, ở một số nguồn tiếng Trung ngày nay, trực lĩnh còn được dùng để chỉ loại áo đối khâm.

Vì vậy, người viết tạm cho rằng trực lĩnh có thể chỉ hoặc giao lĩnh hoặc đối khâm.

Giao lĩnh (交領)

Giao lĩnh là dạng áo có cổ giao nhau. Đây là loại áo cổ xưa nhất trong văn minh Hoa Hạ, được thấy rất nhiều trên các tượng đời Hán. Cổn Miện – phục sức cao nhất của bậc đế vương, chỉ được dùng trong những dịp tế trời – luôn là dạng giao lĩnh vì tuân theo lệ xưa.

Giao lĩnh hiện diện trong trang phục của cả bốn nước đồng văn phương Đông. Tại Việt Nam trước thời hậu kỳ Lê Trung Hưng, giao lĩnh kế thừa hình dạng thời Hán – Đường – Tống, có cổ rộng hơn và trũng hơn so với giao lĩnh thời Minh, khi mặc thì đường cổ võng hơn. Từ thời Lê Trung Hưng hậu kỳ về sau, giao lĩnh Việt bắt đầu mang một số nét ảnh hưởng từ giao lĩnh Minh: cổ cao hơn, kín hơn, đường cổ thẳng hơn, có đính hộ lĩnh.

 

 

 

Ngoài ra, giao lĩnh triều Lê có 6 thân, phần cổ vạt trong chếch xuống với độ dốc tương đương cổ vạt ngoài. Ở giao lĩnh triều Nguyễn, ta thấy độ dốc hai bên cổ không đều nhau: phần cổ vạt ngoài chếch hẳn sang một bên, nhưng phần cổ vạt trong buông thẳng xuống, không chếch như vạt ngoài. Có thể do giao lĩnh triều Nguyễn không buộc gút vạt bên trong, hoặc giao lĩnh triều Nguyễn chỉ có 5 thân (như thụ lĩnh).

Viên lĩnh (員領) / Đoàn lĩnh (團領)

Viên lĩnh hay đoàn lĩnh là dạng áo cổ tròn, vẫn dùng dải gút để buộc như giao lĩnh. Chưa rõ dạng áo này xuất hiện từ bao giờ, nhưng nó trở nên thịnh hành vào thời Đường.

Tại Việt Nam, viên lĩnh thường được dùng làm bào phục, mặc ngoài áo giao lĩnh lót trong. Áo bào thiết triều của vua quan Việt từ triều Lý đến Nguyễn hầu hết đều là viên lĩnh. Áo quái khoác bởi nhạc công, vũ công cũng thế. Vào triều Nguyễn, một số áo viên lĩnh khoác ngoài được thay bằng thụ lĩnh (áo cổ đứng), song kết cấu vẫn không thay đổi nhiều.

 

Lập lĩnh (立領) / Thụ lĩnh (豎領)

Là dạng áo cổ đứng. Áo cổ đứng lần đầu tiên xuất hiện vào triều Minh, về cơ bản không khác gì viên lĩnh, vẫn dùng dải gút để buộc, chỉ đính thêm cổ đứng. Thời Minh cũng xuất hiện loại thụ lĩnh xẻ giữa và không kéo vạt, cài khuy.

Triều Thanh và triều Nguyễn cùng học hỏi thụ lĩnh từ Minh, nhưng mỗi nơi lại đi theo 1 xu huớng khác nhau do mục đích học hỏi khác nhau. Triều Thanh ở vùng lạnh giá, nên học Minh cốt là để sử dụng cái cổ đứng, vậy nên áo lập lĩnh của Thanh cổ thường dựng rất cao mà đường kéo vạt áo thì biến đổi tùy ý, thường uốn lượn như 1 cách thức trang trí, có khi lại kéo chưa đến nách, có khi lại là loại xẻ giữa. Triều Nguyễn thì cốt chỉ muốn có chút khác biệt với kiểu áo cổ xưa thời Lê, nhưng vẫn muốn bảo lưu nền tảng truyền thống, vậy nên cổ dựng không cao mà luôn thấp, còn lại thì không khác gì áo đoàn lĩnh, đặc biệt vạt luôn kéo hẳn sang bên nách như các loại áo ngũ thân khác.

Ở Việt Nam xưa cũng có kiểu áo cổ đứng xẻ giữa, được một bộ phận dân phu và binh lính xưa dùng, ta gọi là áo khách xẻ giữa.

 

Đối Khâm (對襟)

Chữ Khâm (襟) có nghĩa là vạt áo trước. Đối Khâm là dạng áo có hai vạt trước đặt song song nhau, thường để buông thỏng.

Tuỳ vào thời đại, đối khâm còn có những tên như bối tử 褙子 (thời Tống), phi phong (thời Minh), và nhật bình (thời Nguyễn). Mỗi thời đại, kiểu dáng sẽ thay đổi đôi chút.

Không như giao lĩnh và viên lĩnh (có 6 thân), hay thụ lĩnh triều Nguyễn (có 5 thân – còn được gọi là ngũ thân), đối khâm chỉ có 4 thân nên dân gian còn gọi là tứ thân.

 

Những phần căn bản làm nên 1 bộ y phục Việt xưa

Tuỳ vào tầng lớp và địa vị mà y phục của người Việt xưa có thể đơn giản, tiện dụng, hoặc cầu kỳ, phức tạp. Song về căn bản, đa số có những phần sau:

1. Yếm:

Là tên gọi nội y thượng thể của nữ giới thời xưa. Tên gọi này đã có từ triều Nguyễn, nhưng chưa rõ xuất hiện từ bao giờ và các triều đại trước có dùng từ này để chỉ nội y phụ nữ không.

Yếm thời Nguyễn là một mảnh vải hình thoi, ôm kín lấy phần thân trước của các cô gái, hai bên có hai dải lưng, được cuộn mấy vòng quanh eo rồi buộc lại phía trước, thả buông thỏng.

12032576_1033696560028744_126542538_n

Yếm cổ nhạn thời Nguyễn

 

Yếm xưa có cổ rất cao và ôm rất kín, không để lộ xương cổ và hai bên eo như một số kiểu yếm ngày nay, khi khoác áo vào thì không lộ vai.

12021984_1033699766695090_22671575_n

Phụ nữ Bắc Bộ thời Nguyễn mặc yếm cổ nhạn

Cổ yếm có 2 loại phổ biến: Cổ nhạn và cổ xây.

Cổ nhạn còn được gọi là cổ xẻ,có dạng chữ V, ở viền còn có khâu nổi 3 gạch như vết chân chim, vừa để yếm không bị bục rách, vừa để trang trí.

Cổ xây là cổ tròn.

chuan-muc-lam-dep-cua-phu-nu-viet-nam-thoi-xua

Phụ nữ Bắc Bộ thời Nguyễn mặc yếm cổ tròn và khoác thụ lĩnh bên ngoài.

Chưa có nhiều tư liệu để rõ về nội y phụ nữ các thời tiền Nguyễn, nhưng có thể cũng là một dạng áo có cổ tròn như thấy trên các tượng thời Lê.

2. Áo trung đơn

Với nữ giới đây có thể là lớp áo mặc ngoài yếm. Với nam giới, đây có thể là lớp áo trong cùng. Áo trung đơn từ triều Lê về trước thường là dạng giao lĩnh, nhưng cũng có thể là đoàn lĩnh (cổ tròn). Áo trung đơn triều Nguyễn thường là dạng thụ lĩnh (cổ đứng).

Khác với áo ngoài, áo trung đơn chỉ được may bằng 1 lớp vải (gọi là “đơn”).

13493595_530224043836144_1048367217_o

Áo giao lĩnh trung đơn phục dựng bởi nhóm ĐVCP

3. Quái (褂), bào (袍)

Quái và bào là từ dùng gọi những chiếc áo mặc ngoài. Dạng cao sang (thường rộng và dài) thì được gọi là bào, dạng kém cao sang thì được gọi là quái.

Tại Việt Nam và Trung Quốc, quái và bào thường được may bằng hai lớp vải chặp vào nhau, nên mặt trong và mặt ngoài thường có màu khác nhau.

Quái và bào có thể là dạng giao lĩnh, đoàn lĩnh, hoặc thụ lĩnh, tuỳ theo tầng lớp và thời đại.

11247499_419114701613746_3661935155913597893_n

Áo bào dạng thụ lĩnh triều Nguyễn.

Thỉnh thoảng người ta còn khoác thêm một chiếc áo tứ thân bên ngoài quái và bào. (Những chiếc áo tứ thân này có thể được gọi là đối khâm, bối tử, phi phong, hoặc nhật bình).

4. Quần (裙) / Bí (帔) / Váy

Những từ trên đều được dùng để chỉ hạ y dạng tròn, không đáy. Từ “váy” rất có thể là dạng Nôm hoá của bí (帔).

Đây là lớp hạ y bên trong của nữ giới xưa, được buộc bằng dải gút. Nam giới thì mặc hạ y hai ống (trong tiếng Hán gọi là 褲 “khố”).

Vào thời Nguyễn, cả nam lẫn nữ đều mặc hạ y hai ống. Chữ “quần” từ đấy không còn được dùng để chỉ thứ hạ y không đáy nữa.

5. Thường (裳)

Thường là chiếc váy quấn ngoài y phục xưa. Cả nam giới lẫn nữ giới đều dùng.

12278764_456598324532050_3443132689725975865_n

Xiêm (thường) triều Nguyễn.

Điểm khác biệt giữa thường (裳) và váy (còn gọi là 帔 bí, 裙 quần) là váy được may kín còn thường thì không. Nữ giới xưa mặc váy ở trong, sau đó quấn thường bên ngoài. Nam giới thì mặc hạ y hai ống ở trong rồi quấn thường bên ngoài.

12250172_456604404531442_2102695524528269470_n

Tranh vẽ phụ nữ Đàng Trong thế kỷ 17 vận áo đoàn lĩnh (cổ tròn) quấn thường bên ngoài.

Ở các dạng áo vạt ngắn, thường (裳) được quấn ngoài áo. Ở các dạng áo vạt dài, thường (裳) được quấn dưới áo.

Lưu ý: ở nhiều thời đại, thường(裳) và quần (裙) không phân biệt. Quần đôi khi cũng được dùng để chỉ loại váy quấn như thường. Ngược lại loại váy đụp của phụ nữ Bắc bộ thời Nguyễn cũng được gọi là viên thường. Sự phân biệt giữa thường và quần trong bài viết này chỉ mang tính tương đối.